Thứ sáu, Ngày 21 / 11 / 2014 Thời tiết
Bài viết
Tra Bệnh theo vần

A Ă Â B C D Đ E Ê F G H I J K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V W X Y Z

Thông liên thất

THÔNG LIÊN THẤT

Ts. Hoàng Anh

Thông liên thất ( TLT ) là khi trên vách liên thất có một hay nhiều lỗ thông. Đây là một bệnh tim bẩm sinh hay gặp nhất ( chiếm tới 20% các bệnh tim bẩm sinh ). Sở dĩ như vậy là vì về mặt phôi thai học quá trình hình thành vách liên thất rất phức tạp do nhiều nguồn gốc phôi thai khác nhau nên dễ có sai sót mà hậu quả của nó để lại là TLT. Trong hầu hết các tr­ường hợp siêu âm tim có thể chẩn đoán chính xác các tổn th­ương của TLT. Tuy nhiên cũng có những tr­ường hợp phức tạp cần kết hợp với các ph­ương pháp khác như thông tim... để quyết định.


Hình ảnh hai lỗ thông liên thất trên siêu âm màu
 
1. Các dấu hiệu trên Siêu âm 2D và TM:
Trong các tr­ường hợp TLT lỗ nhỏ thông th­ường rất khó quan sát thấy các lỗ thông, hơn nữa những bệnh nhân này kích th­ớc các buồng tim ít khi thay đổi, nên trên siêu âm TM và 2D hầu như không phát hiện được điều gì đặc biệt, chính vì thế dễ bị bỏ sót nếu không được nghe tim cẩn thận trước khi làm siêu âm. Những ca nặng có thể thấy giãn các buồng tim, lần l­ợt: nhĩ trái, thất trái, thất phải và nhĩ phải.
- Khuyết một phần vách liên thất. Đây là dấu hiệu có thể nhìn thấy trên siêu âm 2D, tuỳ theo vị trí của lỗ thông chúng ta có thể quan sát được sự khuyết của vách liên thất trên các mặt cắt trục ngắn cạnh ức trái qua gốc các động mạch lớn, trục dài cạnh ức trái, mặt cắt 4 buồng tim. Đồng thời có thể đo được kích th­ớc lỗ thông trên siêu âm 2D, Nhưng sẽ chính xác hơn nếu kết hợp với siêu âm màu. Căn cứ vào vị trí lỗ thông ta có thể chia TLT làm 4 loại
- Thông liên thất phần quanh màng: thấy trên các thiết đồ cạnh ức trục ngắn ở vị trí t­ương ứng với vị trí từ 9 - 12 giờ và trục dài, hoặc trên mặt cắt d­ới mũi ức. Đây là loại TLT th­ường gặp nhất trên lâm sàng.

Hình ảnh siêu âm màu của lỗ thông liên thất phần quanh màng shunt trái phải

- Thông liên thất phần phễu: trên các thiết đồ cạnh ức trục ngắn vị trí khuyết ở điểm từ 12- 3 giờ và từ cửa sổ d­ới mũi ức, 5 buồng tim cũng có thể thấy lỗ thông liên thất.
- Thông liên thất phần buồng nhận: trên các mặt cắt 4 buồng tim từ mỏm tim và d­ới mũi ức và trục ngắn cạnh ức trái ở mức ngang cơ nhú.
- Thông liên thất phần cơ. Loại này t­ương đối ít gặp và hay có nhiều lỗ thông nên dễ sót tổn th­ương, thông liên thất phần cơ có thể quan sát thấy qua mặt cắt 4 buồng tim, trục dài và ngắn cạnh ức trái.
Nhiều khi kèm theo TLT thấy phình vách phần màng hoặc tổ chức phụ thêm từ van ba lá - các cấu trúc này hình thành để giúp lỗ TLT có thể đóng lại với thời gian.
Ngoài ra bằng siêu âm 2D và siêu âm TM chúng ta có thể đo đạc kích th­ớc các buồng tim, đánh giá chức năng thất trái...
 
2. Siêu âm Doppler
- Doppler xung: phát hiện và xác định dòng shunt qua lỗ TLT - là dòng chảy rối tâm thu khi đặt cửa sổ Doppler ở hai mép của lỗ TLT. Nhưng do dòng chảy trong TLT th­ường với tốc độ lớn nên bằng siêu âm Doppler xung chúng ta chỉ xác định được vị trí lỗ thông chứ không đo được gradient áp lực qua lỗ thông. Tính toán l­u l­ượng shunt bằng cách tính tỷ lệ giữa l­u l­ượng dòng chảy qua ĐMP và ĐMC.
- Doppler liên tục: Đặt cửa sổ Doppler vào vị trí lỗ thông đã được xác định qua siêu âm 2D hay siêu âm màu, chúng ta có thể xác định được h­ớng của shunt dựa trên chiều d­ương hay âm của phổ Doppler. Đồng thời đo độ chênh áp giữa thất trái và thất phải qua lỗ TLT để ­ớc tính áp lực ĐMP.

ALTTĐMP = HATTh- MaxPG (qua lỗ thông)
ALTTĐMP: áp lực tâm thu động mạch phổi
HATTh : Huyết áp tâm thu
MaxPG : Độ chênh áp tối đa qua lỗ thông 

Phổi Doppler liên tục của thông liên thất

- Doppler màu: Phát hiện dòng shunt qua lỗ TLT và chiều của nó qua phổ màu quan sát được. Có thể dùng cả ph­ương pháp màu TM để dễ phân tích. Đo độ rộng của lỗ thông qua dòng màu “ vena contracta ”, thông th­ường cách đo này cho kết quả lớn hơn cách đo trên siêu âm 2D, Nhưng chính xác hơn. Phát hiện các lỗ thông , đặc biệt trong những tr­ường hợp lỗ thông nhỏ và có nhiều lỗ của TLT phần cơ.
 
3. Siêu âm cản âm:
Hình ảnh “rửa” bọt cản âm trong thất phải trong tr­ường hợp TLT vẫn còn shunt trái - phải. Trong TLT có tăng áp lực ĐMP nặng hoặc TLT đã đảo h­ớng shunt, có thể thấy bọt cản âm tràn từ thất phải sang thất trái qua lỗ TLT. Trước kia khi ch­a có siêu âm Doppler siêu âm cản âm được sử dụng rộng rãi để đánh giá tình trạng tăng áp lực trong thất phải qua quan sát sự di chuyển của chất cản âm . Nhưng ngày nay th­ường chỉ dùng khi siêu âm màu và siêu âm Doppler ch­a xác định được chắc chắn TLT. 
4. Đánh giá mức độ bệnh: 
*Thông liên thất shunt nhỏ:
- Vena contracta < 3 mm
- L­u l­ượng shunt nhỏ: Qp / Qc < 1,2.
- Không có tăng áp lực động mạch phổi.
* Thông liên thất shunt lớn:
- Vena contracta > 3,5 mm
- L­u l­ượng shunt lớn: Qp / Qc > 1,3.
- Tăng áp lực động mạch phổi.
- Shunt hai chiều.
 
Tóm lại.
Trong TLT bằng siêu âm tim chúng ta phải trả lời được những câu hỏi sau :
- Vị trí của lỗ thông liên thất
- Kích th­ớc của lỗ thông.
- Giới hạn hay biên giới của lỗ thông.
- Mối liên quan của các van tim với lỗ thông liên thất.
- Có bao nhiêu lỗ thông.
- Tính chất của shunt, Max PG qua lỗ thông.
- Các bệnh kết hợp và chức năng thất trái.


Các bài viết khác
y duoc tinh hoa