Thứ ba, Ngày 25 / 11 / 2014 Thời tiết
Bài viết
Tra Bệnh theo vần

A Ă Â B C D Đ E Ê F G H I J K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V W X Y Z

Đau thắt ngực

CƠN ĐAU THẮT NGỰC & THIẾU MÁU CƠ TIM

 (Angor Pectoris - Anginalsyndrome) &   (Ischaemie Heart disease - Angine de poitrine)

 

 

Bệnh đau thắt ngực, benh dau that ngucĐại Cương

Bệnh thiếu máu tim cục bộ hay thiếu máu cơ tim là một trong những biểu hiện thường gặp nhất của bệnh xơ mỡ động mạch. Bệnh thiếu máu tim là bệnh thường gặp ở người lớn tuổi và là nguyên nhân tử vong cao (ở các nước phát triển, 50% các trường hợp tử vong là do thiếu máu tim).

Sau nhiều lần đau thắt tim tái phát, quá trình thiếu máu tim tiến triển kéo dài dẫn đến xơ hóa cơ tim (Cardiosclérose).

Theo nhiều tác giả về tim học thì 90% trường hợp đau thắt tức là hậu quả của bệnh nhiễm mỡ xơ mạch vành, do đó trong điều trị, ngoài việc cắt cơn đau cần chú ý phát hiện và điều trị bệnh nhiễm mỡ xơ mạch (hoặc huyết áp cao thường đi kèm).

Trong bệnh thiếu máu tim mạn tính, hiện nay tim học phân biệt 2 thể đau thắt tim:

1) Cơn đau thắt tim thể ổn định (Angor stable) có đặc điểm là cơn đau tái phát nhiều lần trong thời gian 3 tháng mà số lần và mức độ không thay đổi đáng kể là thể nhẹ lành tính.

2) Cơn đau thắt tim thể bất ổn (Angors instables) có nhiều loại đau thắt tim với những tên gọi khác nhau như: Hội chứng trung gian (Syndronle intermédiate), hội chứng tiền nhồi máu (Syndrome pré-infarct), hội chứng đe dọa (Synclrome de menace). Đặc điểm cơn đau ở thể này là xuất hiện dễ hơn, nặng hơn, kéo dài hơn, cơn đau không do gắng sức, ban đêm hoặc đau dữ dội...

 

Bệnh đau thắt ngực, benh dau that ngucNguyên Nhân Và Cơ Chế Bệnh Lý Của Bệnh Đau Thắt Ngực Và Thiếu Máu Tim

+ Nhiễm mỡ xơ mạch vành: là nguyên nhân trong 90% trường hợp. Cơn đau thắt tim do nhiễm mỡ xơ mạch tiên lượng xấu, dễ chuyển sang nhồi máu cơ tim, loạn nhịp tim, suy tim, chết đột ngột. 90%

. Tổn thương thực thể ở động mạch vành hoặc suy chức năng mạch vành: Tổn thương thực thể như viêm động mạch vành do giang mai, viêm quanh nút động mạch, tắc mạch vành do máu cục từ xa đưa đến.

. Suy động mạch vành chủ yếu do hẹp van động mạch chủ, calci hóa hay không, hở van động mạch chủ nặng: hẹp hai lá khít, cơn nhịp nhanh kịch phát, thiếu máu nặng kéo dài...

Cơ chế bệnh lý: Do thiếu máu nên thiếu oxy và để có năng lượng sống, tế bào cơ tim phải cho phân hủy Adenonucleotid để tạo năng lượng. Và trong quá trình phóng chất Adenosin gây nên đau.

Theo đông y nguyên nhân chính là khí trệ huyết ứ

 

Bệnh đau thắt ngực, benh dau that ngucTriệu Chứng Lâm Sàng

A - Cơn điển hình

- Đau sau xương ức đột ngột, thường xảy ra khi đang đi vội, leo dốc, lên cầu thang, khi trời lạnh v.v...

- Cảm giác tức ngực như có vật đè lên sau xương ức hoặc bên trái, đau lên hai vai, hai quai hàm dưới, phía trong tay trái lan lên cổ. Cũng có khi cảm giác đau nhói hoặc nóng bỏng.

- Cảm giác bồn chồn lo sợ, cơn kéo dài vài giây đến vài phút. Nếu kéo dài hơn nửa giờ phải nghĩ đến nhồi máu cơ tim.

Cơn có thể thưa hay mau. Cơn càng mau, càng kéo dài, tiên lượng càng xấu. Cơn đau có thể chấm dứt hoặc giảm ngay sau khi hết yếu tố kích thích hoặc 1-5 phút sau khi dùng các Nitrat tác dụng nhanh như ngậm dưới lưỡi viên Nitroglycerin.

Trong thời gian cơn đau, bệnh nhân không có triệu chứng gì khác. Mạch, huyết áp nghe tim phổi bình thường. Mạch Trầm, Tế, Sác.

B- Cơn không điển hình

- Vị trí và hướng lan: Có khi chỉ đau ở tay, vùng thượng vị, vùng trên xương ức, vùng cổ. Có khi lan ra sau gáy, xuống lưng, ra hai tay ngón út nhưng không bao giờ lan ra ngón cái, và hàm trên.

- Cường độ đau : Có khi chỉ có cảm giác tức sau xương ức.

- Điều kiện xuất hiện: Cơn đau thắt ngực có khi tự phát, xảy ra lúc ngủ hoặc có cơn xúc động mạnh. Có khi xảy ra liên tục, xuất hiện dễ dàng chỉ sau một cử động nhẹ.

 

Bệnh đau thắt ngực, benh dau that ngucĐiều Trị Bằng Y Học Cổ Truyền

Nguyên tắc chung: Hành khí, hoạt huyết, thông dương, hóa trọc.

A- Đang lên cơn :

Chủ yếu là dùng các biện pháp cấp cứu tích cực. Lúc đang cơn đau ngực chủ yếu là dùng thuốc Tây kết hợp châm cứu bấm huyệt, xoa bóp.

Các huyệt thường dùng: Chiên trung (chủ huyệt), phối hợp Nội quan, Cự khuyết, Gian sử, Túc tam lý.

Bấm huyệt Nội quan dùng lực mạnh và bảo bệnh nhân thở sâu liên tục 3 lần, đau giảm. Có kinh nghiệm day bấm huyệt điểm giữa đường nối 2 huyệt Tâm du và Quyết âm du bên trái trong 1-2 phút, đau giảm rõ.

+ Châm Nội quan (tổng huyệt trị bệnh lồng ngực, làm cho tim phổi điều hòa thư thái), Tâm du (làm cho huyết lưu thông khỏi ứ trệ gây đau), Chiên trung (huyệt hội của khí, làm cho khí lưu thông, ngực được nhẹ nhàng), Hợp cốc.

Có thể châm nhiều lần trong ngày tùy số lượng cơn đau.

Khi đang lên cơn đau, châm kích thích mạnh, phải đắc khí để đạt hiệu quả giảm đau, người bệnh thấy dễ chịu vùng ngực. Lưu kim 30 phút, cứ 10 phút vê kim một lần.

B- Sau Cơn Đau

Ngoài các biện pháp như phần trên đã nêu, dùng thuốc Đông y theo biện chứng có vai trò tích cực. Có thể chia mấy thể bệnh dùng thuốc như sau:

Pháp: Hành khí, hoạt huyết, thông dương, hoá trọc

 

Hồng hoa

12

Sài hồ

12

Trần bì

8

Cát cánh

8

Phỉ bạch

10

Chỉ sác

8

Qua lâu

12

Xuyên khung

8

Qui đầu

12

Thục địa

20

xích thược

12

Đan sâm

12

Bán hạ

8

Huyền hồ

8

Uất kim

8

Châm cứu: Nội quan , Đản trung , Hợp cốc, điểm giữa ,Tâm du và quyết âm du

 

Các bài viết khác
y duoc tinh hoa