Thứ năm, Ngày 18 / 12 / 2014 Thời tiết
Bài viết
Tra Bệnh theo vần

A Ă Â B C D Đ E Ê F G H I J K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V W X Y Z

X-quang cột sống

X QUANG CỘT SỐNG
PGS.TS. Thái Khắc Châu
(THẦN KINH HỌC - Chủ biên: GS.TS. Nguyễn Văn Chương)
Mục tiêu:
Biết được các phương pháp chụp X quang cột sống và đánh giá các tổn thương.
Nắm được một số đặc điểm giải phẫu Xquang cột sống.
Biết chẩn đoán Xquang một số bệnh thường gặp ở cột sống.
1. Đại cương
1.1. Các phương pháp chụp X quang cột sống
— Chụp X quang từng vùng của cột sống (cổ, lưng, thắt lưng cùng) trên hai bình điện thẳng và nghiêng.
— Chụp cột sống các tư thế đặc biệt như:
+ Chụp đốt sống C1, C2 tư thế thẳng, há miệng (chụp để phát hiện các biến đổi ở mỏm nha và khớp đội - trục).
+ Chụp đốt sống chếch 3/4 để phát hiện các biến đổi của lỗ ghép.
— Chụp tuỷ cản ngang (myelography) để phát hiện sự hẹp tắc của ống tuỷ (đặc biệt do u tuỷ). Chụp bao rễ thần kinh (saccoradiculography) phát hiện các chèn ép túi cùng và rễ thần kinh (đặc biệt là do thoát vị đĩa đệm đoạn cột sống thắt lưng).
— Chụp cắt lớp vi tính - tạo ảnh bằng cộng hưởng từ: là phương pháp hiện nay được coi là có giá trị nhất trong lĩnh vực tạo hình ảnh y học ở cột sống và tuỷ sống; được chỉ định trong những trường hợp ghi u tuỷ, thoát vị đĩa đệm.
1.2. Đánh giá các tổn thương bệnh lý của cột sống trên phim chụp X quang:
— Biến đổi đường cong sinh lý của cột sống: có thể do nguyên nhân bẩm sinh hoặc mắc phải dẫn đến các tình trạng gù, vẹo, trượt thân đốt hoặc cột sống duỗi thẳng mất đường cong sinh lý.
— Thay đổi hình thể thân đốt sống và chiều cao khe đĩa đệm.
— Trên phim chụp tuỷ: tiêm thuốc cản quang vào ống sống cho phép đánh giá tình trạng hẹp tắc, chèn ép, biến dạng ống tuỷ.
2. Một số đặc điểm giải phẫu X quang cột sống
2.1. Đường cong sinh lý
Nhận biết qua phim chụp cột sống tư thế nghiêng, là đường cong liên tục nối liền bờ trước hoặc bờ sau các thân đốt.
+ Ở đoạn cổ: đường cong ưỡn nhẹ đều đặn ra trước.
+ Đoạn lưng: đường cong vồng ra sau.
+ Đoạn thắt lưng: đường cong ưỡn nhẹ ra trước.
+ Đoạn cùng cụt: đường cong vồng ra sau.
2.2. Thân đốt sống và khe đĩa đệm
— Nhìn chung thân đốt sống có hình chữ nhật ở người trẻ. Ở người già, bờ trên và bờ dưới thân đốt hơi lõm về phía thân đốt.
+ Đĩa đệm: nằm ở khe đĩa đệm là khoảng cách giữa hai thân đốt sống, bình thường đĩa đệm không cản quang và không thấy được trên phim chụp.
2.3. Các khớp ở cột sống
— Hệ thống khớp sống - sống (articularis intervertebralis): tạo nên bởi các mấu sống trên và mấu sống dưới của hai thân đốt kế cận và được nhận biết trên phim chụp cột sống tư thế thẳng.
— Hệ thống khớp bán nguyệt hay khớp mấu móc cột sống (articularis uncovertebralis) hay còn gọi là khớp Luschka: chỉ có duy nhất ở cột sống cổ, có liên quan tới cử động quay của cổ. Mỗi đốt sống cổ có hai mấu bán nguyệt ở mỗi khe gian đốt. Mấu bán nguyệt bình thường có hình gai hoa hồng và dễ nhận biết trên phim chụp cột sống cổ tư thế thẳng (hình 1.5, hình 1.6).

Hình 1.5: Cấu tạo X quang cột sống.
1. Mấu sống dưới
2. Mấu sống trên
3. Mỏm ngang
4. Cuống sống
5. Gai sau
6. Khớp sống - sống





Hình 1.6: Cột sống cổ trên phim thẳng.
1. Mỏm nha
2. Mấu và khớp bán nguyệt
3. Khớp sống - sống
3. Chẩn đoán X quang một số bệnh hay gặp ở cột sống
3.1. Rối loạn chuyển tiếp ở cột sống
Bình thường cột sống cổ (C) có 7 đốt, cột sống ngực (D) có 12 đốt, cột sống thắt lưng (L) có 5 đốt sống cùng (S) và 3 - 4 đốt cụt. Thay đổi số lượng đốt sống có thể xảy ra như sau:
— Có 8 đốt sống cổ.
— Tồn tại xương sườn ở đốt cổ thứ 7. Có thể chỉ ở một bên hoặc cả hai bên, gây chèn ép rễ thần kinh cánh tay.
— Xương sườn cụt của đốt sống D12 teo nhỏ hoặc không có.
— Thắt lưng hoá D12: xương sườn cụt của D12 teo nhỏ.
— Thắt lưng hoá S1 (lumbalisation): đốt sống S1 nhô lên đoạn thắt lưng để tạo thành đốt sống thắt lưng thứ 6.
— Cùng hoá L5 (sacralisation): cột sống thắt lưng chỉ còn 4 đốt, đốt L5 dính vào khối xương cùng.
Những dị dạng này thường là bẩm sinh, nhưng có một số trường hợp đến tuổi trưởng thành mới xuất hiện cùng hoá hoặc thắt lưng hoá và có thể tạo nên khớp tân tạo giữa mỏm ngang của L5 hoặc S1 với xương chậu; có khi có một bên, có khi cả hai bên; dẫn đến những biến đổi trong hoạt động cử động của cột sống thắt lưng. Đó là một trong những nguyên nhân gây đầu thắt lưng và thoái hoá cột sống hoặc phụ trợ cho bệnh thoát vị đĩa đệm.
3.2. Gai đôi (spina bifida) và hở eo đốt sống (spendylolyse):
— Gai đôi và hở eo đều là những dị tật bẩm sinh nguyên do của quá trình cốt hoá của cột sống thiếu hoàn thiện.
— Gai đôi hay gặp ở L4, L5 và S1 là hiện tượng thiếu hổng của mỏm gai hoặc mỏm gai tách làm hai. Trên phim chụp cột sống tư thế thẳng có thể nhìn rõ gai sau bị tách làm hai hoặc thiếu hổng hoàn toàn.
— Hở eo (spendylolyse): Nguyên nhân là sự cốt hoá không đầy đủ ở phần cuống sống, thường gặp ở đốt sống L4, L5, hình ảnh hở eo đốt sống thấy được trên phim chụp cột sống chếch 3/4 với dấu hiệu “chó đeo vòng cổ”. Hở eo đốt sống thường gây nên bệnh trượt đốt sống ra trước (spendylolisthesis). Trượt do hở eo thân đốt hoàn toàn tự phát, đôi khi sau một cơ hội có chấn thương nhẹ ở cột sống. Hình ảnh X quang trượt thân đốt được xác định bằng sơ đồ Ulmann: thân đốt trượt sẽ ra trước đường thẳng kẻ vuông góc với mặt trên thân đốt dưới tại góc trên (hình 1.7, hình 1.8). Trượt thân đốt sống có thể do nguyên nhân thoái hoá là do đĩa đệm bị thoái hoá mất tính chất đàn hồi làm cho sự liên kết giữa các thân đốt thiếu chặt chẽ, trượt do thoái hoá là trượt giả, trượt do hở eo là trượt thân.



Hình 1.7: Quá trình cốt hoá và sự hình thành gai đôi (1), hở eo (2) và dị dạng nửa thân đốt sống (3, 4, 5).


Hình8: Hở eo và trượt thân đốt (A); sơ đồ Ulmann (B).

3.3. Thoái hoá biến dạng cột sống
Bệnh gặp phổ biến ở người trên 40 tuổi. Theo Schmorl, thoái hoá cột sống là sự thoái hoá của vòng xơ bao quanh đĩa đệm, hậu quả làm cho đĩa đệm căng phồng lên và lồi ra ngoài, dây chằng cột sống bị kéo giãn ra và đóng vôi đoạn sát bờ đĩa đệm để hình thành nên mỏ xương. Mỏ xương thường xuất hiện ở bờ trước và hai bên của thân đốt, ít khi thấy ở bờ sau, nếu có sẽ gây nên chèn ép rễ tuỷ sống. Trong thoái hoá cột sống, chiều cao khe đĩa đệm ít thay đổi trong một thời gian dài, sau đó cũng bị hẹp do tình trạng thoái hoá xương sụn gây nên (osteochondrose).
Mỏ xương do thoái hoá cột sống xuất hiện đồng thời ở nhiều thân đốt, nhất là một vùng cổ và vùng thắt lưng. Mỏ xương khu trú ở 1 - 2 thân đốt chủ yếu gặp trong thoái hoá cột sống sau chấn thương hoặc di chứng của lao. Mức độ nặng, mỏ xương giữa các thân đốt dính nhau thành cầu xương. Một dấu hiệu khá thường xuyên kèm theo mỏ xương là hình ảnh dày xương dưới sụn (subchondral sclerose) tạo nên các đường mờ đậm ở bờ trên và bờ dưới thân đốt, nơi tiếp xúc với đĩa đệm.
Thoái hoá cột sống cổ thường gây ra mỏ xương ở thân đốt và mấu bán nguyệt. Mỏ xương ỏ mấu bán nguyệt là lý do trực tiếp làm hẹp lỗ ghép, gây chèn ép rễ thần kinh và động mạch sống nền. Trên lâm sàng đặc trưng bởi hội chứng cổ - đầu, cổ - vai - cánh tay.
Hình ảnh X quang trên phim chụp cột sống cổ tư thế thẳng cho thấy mờ đậm hoặc phì đại mấu bán nguyệt, bên tổn thương khe khớp bán nguyệt hẹp hơn bên lành. Trên phim chụp chếch 3/4 cột sống cổ cho thấy lỗ ghép bị hẹp.
3.4. Thoát vị đĩa đệm
Thoỏt vị đĩa đệm là hiện tượng thoát nhân nhầy của đĩa đệm qua lỗ rách của vòng xơ. Sự di chuyển của nhân nhầy thường ra phía sau và gây chèn ép vào ống tuỷ và rễ thần kinh.
Thoát vị đĩa đệm hay gặp ở cột sống thắt lưng, có thể xảy ra ở cột sống cổ và hiếm gặp ở cột sống ngực.
Hình ảnh X quang của thoát vị đĩa đệm không có những dấu hiệu tin cậy trên phim chụp X quang cột sống thường. Phim chụp tuỷ cản quang cho thấy sự chèn ép vào ống tuỷ ở các dạng sau:
— Thoát vị đĩa đệm thể trung tâm: cho thấy khuyết bờ trước cột thuốc cản quang hình ấn ngón tay, tương đương vị trí của khe đĩa đệm gây chèn ép cắt cụt hoàn toàn cột thuốc cản quang trông như hình ảnh của một u tuỷ. Việc chẩn đoán phân biệt trong trường hợp này cần có sự hỗ trợ của phim chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ.
— Thoát vị đĩa đệm thể lệch bên: nhân nhầy đĩa đệm có thể di chuyển vào cạnh lỗ ghép để chèn vào các rễ thần kinh. Hình ảnh X quang trên phim chụp bao rễ tư thế thẳng hoặc chếch 3/4 cho thấy ống tuỷ có thể hoàn toàn bình thường, nhưng rễ thần kinh có thể bị cắt cụt một bên.
3.5. Biến đổi ở cột sống do chấn thương
Chấn thương cột sống gây nên:
— Vỡ thân đốt: đường gãy thường chạy ngang thân đốt, gây gián đoạn hoặc gập góc ở bên trên của thân đốt.
— Xẹp thân đốt: chiều cao thân đốt bị lùn xuống, đậm độ cản quang của thân đốt tăng hơn các đối tượng lân cận, thông thường khe đĩa đệm không bị hẹp.
— Trượt đốt sống: có thể trượt ra trước, ra sau hoặc sang bên.
— Gãy mỏm nha của C2 được phát hiện qua phim chụp cột sống cổ nghiêng và chụp C1 - C2 tư thế thẳng há miệng.
— Gãy cung sau, gãy mỏm ngang và mỏm gai thường ít gặp hơn.
— Tuỳ mức độ chấn thương cột sống nếu trượt hoặc di lệch mảnh gãy về phía ống tuỷ sẽ gây chèn ép tuỷ dẫn đến liệt.
3.6. Lao cột sống
Lao cột sống là bệnh thường gặp nhất trong các bệnh lao xương khớp, thường xuất hiện ở đốt sống L1 - L2 và D9 - D12.
Hình ảnh X quang lao cột sống diễn biến qua 3 giai đoạn:
— Giai đoạn sớm: hẹp khe đĩa đệm, thấy rõ trên phim chụp cột sống tư thế thẳng và nghiêng. Đôi khi hẹp đĩa đệm rất kín đáo, cần so sánh với các khe đĩa đệm lân cận để nhận biết.
— Giai đoạn toàn phát: cùng với dấu hiệu hẹp khe đĩa đệm là hình ảnh phá huỷ của vi khuẩn lao vào thân đốt sống (hình 1.9a), bờ thân đốt sát với đĩa đệm trở nên nham nhở, xẹp thân đốt kiểu hình chêm làm cho đường cong sinh lý bị biến dạng gập ra trước (gù — kyphoscoliosis).
— Giai đoạn hồi phục và di chứng: các thân đốt bị lao dính liền nhau, mất khe đĩa đệm, ở cột sống ngực có hình con nhện.
— Ổ ỏp xe lạnh: là đám mờ hình thoi, nằm hai bên vùng đốt sống bị tổn thương. Ổ ỏp xe lành thường xuất hiện ở giai đoạn toàn phát của bệnh, nó có thể gây rò, tồn tại cho đến khi ổ lao khỏi hoàn toàn (hình 1.9b)

Hình 1.9b: Hình ảnh trên MRI ổ áp xe lạnh (trái) và dính thân đốt do lao (phải). Chẩn đoán phân biệt lao cột sống với các tổn thương khác ở cột sống trên hình ảnh X quang cần lưu ý những điểm sau:
— Hẹp khe đĩa đệm là dấu hiệu phổ biến của lao cột sống. Thoái hoá cột sống mức độ nặng cũng có thể gây hẹp khe đĩa đệm, nhưng không có hiện tượng tiêu xương mà trái lại luôn có hình ảnh tăng đậm do xơ hoá lớp xương dưới sụn.
— Lao cột sống không có quá trình tân tạo xương đi kèm, không có mỏ xương như trong thoái hoá cột sống.
— Xẹp thân đốt do chấn thương khác với thân đốt do lao là chiều cao đĩa đệm vẫn được tôn trọng.
— Tiêu xương do lao thường diễn ra ở thân đốt sống, không xâm phạm vào cung sau; trong khi đó tiêu xương do ung thư cột sống thường phá huỷ ở thân đốt và cả cung sau.
3.7. Biến đổi ở cột sống trong bệnh viêm cột sống dính khớp (bệnh Bechterew - Strumpell - Marie)
Khởi đầu của bệnh Bechterew là dấu hiệu viêm khớp cùng chậu (chiếm 70% trường hợp), tiếp theo là dấu hiệu thừa xương cột sống. Sớm nhất là sau 3 năm xuất hiện vôi hoá ở các dây chằng và các khớp của cột sống.
Hình ảnh X quang cho thấy các dấu hiệu sau đây:
— Viêm khớp cùng chậu hai bên: phim chụp thẳng cột sống thắt lưng cho thấy khe khớp cùng chậu hai bên mờ.
— Khớp háng xuất hiện mỏm xương và hẹp khe khớp do thoái hoá.
— Cột sống thay đổi trước hết là ở cột sống thắt lưng, hiếm khi ở cổ và ngực. Thừa xương rõ ở thân đốt, nhưng khe đĩa đệm vẫn giữ được chiều cao bình thường trong một thời gian dài.
— Viêm hệ thống khớp sống - sống và cốt hoá dây chằng dọc trước, dây chằng liên gai, dây chằng bên của cột sống. Hình ảnh X quang trên phim chụp thẳng cột sống là hình “cây tre” hoặc “đường ray xe lửa”. Gù xuất hiện do tình trạng vôi hoá các dây chằng.
Bệnh Bechterew là bệnh dính khớp lan toả, bên cạnh những tổn thương ở cột sống, hàng loạt khớp khác cũng bị dính (khớp cùng chậu, khớp háng…).
3.8. U tuỷ
U tủy sống có thể gặp các loại:
— U ngoài màng cứng.
— U trong màng cứng ngoài tủy.
— U trong tủy.
Chụp tủy cản quang cho thấy tắc lưu thông thuốc cản quang ở vùng có u. Vị trí của vùng tắc thuốc do u chèn ép thuốc cao hơn so với sự định khu của u trên lâm sàng khoảng một thân đốt.
Căn cứ vào hình ảnh X quang trên phim chụp tủy cản quang, người ta có thể xác định được các loại u nói trên.

Hình 1.10: Hình ảnh Xquang u tủy trên phim chụp tủy cản quang.
Nhìn chung u tủy thường được phát hiện trên phim chụp tủy cản quang là dấu hiệu tắc lưu thông thuốc cản quang. Giới hạn chỗ tắc thường có hình trôn chén hoặc càng cua.
Để thấy rõ giới hạn của u tủy, trước khi phẫu thuật trên chụp cộng hưởng từ.
3.9. Tồn tại điểm cốt hoá ở thân đốt
Ở thân đốt cột sống thắt lưng đôi khi thấy hình ảnh các điểm vôi hoá nằm ở góc trước của thân đốt trên phim chụp nghiêng. Không nhầm điểm cốt hoá này với vỡ xương ở thân đốt sống.

Câu hỏi ôn tập:
1. Hãy nêu một số phương pháp chụp X quang cột sống và sơ bộ đánh giá tổn thương?
2. Hãy nêu một số đặc điểm giải phẫu X quang cột sống?
3. Dựa trên hình ảnh X quang hãy chẩn đoán một số bệnh hay gặp ở cột sống?

 

Các bài viết khác
y duoc tinh hoa