Chủ nhật, Ngày 23 / 11 / 2014 Thời tiết
Bài viết
Tra Bệnh theo vần

A Ă Â B C D Đ E Ê F G H I J K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V W X Y Z

Các loại ống thông và ống dẫn lưu phẫu thuật

Các loại ống thông và ống dẫn lưu phẫu thuật
1.1. Các ống thông đường tiêu hoá:
+ Các ống thông dạ dày đặt qua mũi hoặc mồm: thường dùng để giảm áp dạ dày và ruột non (khi bị tắc ruột), đưa thuốc hoặc chất dinh dưỡng vào đường tiêu hoá khi bệnh nhân không tự nuốt được (bị hôn mê, tổn thương vùng hầu họng...), để rửa dạ dày (chảy máu đường tiêu hoá trên, cấp cứu ngộ độc thuốc đường uống...). Các ống thông này có thể có một nòng hay hai nòng. Hầu hết các ống này đều có dải cản quang nằm dọc thân ống để dễ dàng xác định khi chụp X quang.
+ Các ống thông hỗng tràng qua mũi: thường dùng để đưa thuốc hoặc chất nuôi dưỡng vào đường tiêu hoá, để giảm áp ruột non... Có loại ống dùng để nuôi dưỡng (ống Dobhoff) hoặc để giảm áp ruột non (ống Cantor, Gowan, Miller-Abbott, Baker-Nelson...).
+ Các ống thông đường mật:
- Các ống thông đường mật qua mũi: chủ yếu để hút giảm áp đường mật trong các trường hợp tăng áp lực đường mật. Thường dùng loại ống Silastic mềm có một nòng.
- Các ống thông đường mật kiểu chữ T: thường dùng để dẫn lưu đường mật sau mổ ống mật chủ, ghép gan có nối đường mật chính... Các ống thông chữ T thường được đặt vào ống mật và đưa ra ngoài qua thành bụng trước, điển hình là ống Kehr.
+ Các ống thông trực tràng: thường dùng cho bệnh nhân nằm liệt giường bị chảy phân thường xuyên hoặc có vết thương vùng hậu môn sinh dục để dự phòng tình trạng ẩm loét da hoặc ô nhiễm vết thương. Có nhiều loại thông trực tràng có bóng hoặc không có bóng ở đầu.
+ Các ống thông trong mở thông đường tiêu hoá:
- Các ống thông trong mở thông dạ dày qua thành bụng trước: dùng để dẫn lưu dạ dày hoặc đưa thuốc và chất dinh dưỡng vào đường tiêu hoá. Chúng được thiết kế riêng với đầu có bóng hoặc hình nấm, thường có một nòng. Cũng có loại đặc biệt có hai nòng dùng trong mở thông dạ dày-hỗng tràng, một nòng thông vào dạ dày và một nòng thông vào hỗng tràng.
- Các ống thông trong mở thông hỗng tràng qua thành bụng trước: chủ yếu dùng để đưa thuốc và chất dinh dưỡng vào đường tiêu hoá. Các ống thông loại này thường là một nòng, có hoặc không có bóng ở đầu.
- Các ống thông mở thông manh tràng: chủ yếu dùng trong trường hợp viêm ruột thừa thủng mà việc đóng mỏm cụt ruột thừa khó hoặc không thực hiện được; thường dùng loại ống một nòng có bóng ở đầu hoặc catheter Winsbury-White.
1.2. Các catheter tiết niệu:
+ Catheter dẫn lưu bàng quang trên xương mu đưa qua thành bụng trước: thường là một nòng, có bóng ở đầu hoặc đầu có hình nấm.
+ Catheter có bóng ở đầu (catheter Foley) được dặt vào bàng quang qua niệu đạo.
+ Các catheter dẫn lưu niệu quản và ống dẫn lưu thận: có nhiều loại khác nhau.
1.3. Các ống dẫn lưu lồng ngực:
Các ống dẫn lưu lồng ngực được dùng để giải thoát các chất dịch từ khoang màng phổi hoặc trung thất. Chúng thường có đường kính lớn (20 - 36 Fr), đầu có nhiều lỗ, có vạch cản quang chạy suốt chiều dài của ống, làm bằng polyvinylchloride hoặc silastic để đảm bảo không quá mềm hoặc quá cứng.

Các loại ống thông và ống dẫn lưu
Vật liệu và kiểu ống
Cỡ người lớn
Cỡ trẻ em (1-7 tuổi)

* Các loại ống thông và ống dẫn lưu đường tiêu hoá:

+ Các ống thông dạ dày qua miệng hoặc qua mũi Polyvinylchloride hoặc silastic, có 1 hoặc 2 nòng 12-18 Fr 10-12 Fr
ống Sengstaken-Blakemore Polyvinylchloride, có bóng riêng ở thực quản và dạ dày 20 Fr ít dùng
+ Các ống thông hỗng tràng:
- Để nuôi dưỡng (Dobhoff)
Polyurethane, có 1 nòng 8-12 Fr 8 Fr
- Các ống thông ruột non dài:
· ống Cantor Cao su tự nhiên, đầu có bóng chứa thủy ngân 16 Fr ít dùng
· ống Gowan Có 3 nòng, đầu có bóng và dây dẫn ít dùng
+ Các ống thông trực tràng: Polyvinylchloride hoặc cao su phủ teflon, đầu có bóng 20-28 Fr ít dùng
+ Các ống thông đường mật:
- Các ống thông đường mật qua mũi
Polyurethane, Polyvinylchloride hoặc silastic 10-14 Fr ít dùng

* Các loại ống dùng trong mở thông đường tiêu hoá:
- ống thông chữ T
Cao su latex
+ Các ống mở thông dạ dày:
- Loại catheter có bóng ở đầu
Cao su latex có phủ teflon 18-24 Fr 10-16 Fr
- Catheter Malecot
Polyvinylchloride 10-38 Fr 10-16 Fr
(1) (2) (3) (4)
- ống thông dạ dày-hỗng tràng
Polyvinylchloride 18-24 Fr ít dùng
- ống mở thông dạ dày qua da
Polyvinylchloride 20-28 Fr 14-28 Fr
+ Các ống mở thông hỗng tràng
Polyvinylchloride 8-18 Fr 8-14 Fr
+ Các ống dẫn lưu manh tràng Polyvinylchloride hay cao su phủ Teflon, có bóng ở đầu 10-24 Fr ít dùng
* Các catheter tiết niệu:
+ Catheter trên xương mu Catheter có đuôi (móc Cope) hoặc có bóng ở đầu 12-14 Fr 12 Fr
+ Catheter có bóng ở đầu (Foley)
- Loại 1 nòng
Cao su latex phủ teflon 12-24 Fr bóng 5 cc 10-12 Fr bóng 3 - 5 cc
- Loại 3 nòng
Cao su latex phủ teflon 18-26 Fr bóng 30 cc ít dùng
* Các ống dẫn lưu lồng ngực
Polyvinylchloride hoặc silastic (thẳng hoặc gập góc) 20-36 Fr 14-32 Fr

Fr: French scale (1 Fr = 0,33 mm hoặc 3 Fr = 1 mm)

 


một nhánh phòng tắc (iii)


Hình 1
: Một số loại catheter dùng trong phẫu thuật.
2. Dẫn lưu trong phẫu thuật:

Dẫn lưu phẫu thuật là biện pháp để giải thoát dịch khỏi một khoang cơ thể nhất định.

 

2.1. Những nguyên tắc dẫn lưu trong phẫu thuật:

 

+ Lựa chọn phương pháp dẫn lưu phải phù hợp với tính chất, số lượng của chất cần dẫn lưu và vị trí giải phẫu của nơi cần dẫn lưu.

 

+ Khi đã đạt được mục đích thì phải sớm rút bỏ dẫn lưu.

 

+ Phải lựa chọn vật liệu làm dẫn lưu thật thích hợp: đủ mềm để tránh làm tổn thương tổ chức, không gây kích thích tổ chức, đủ bền để không bị phân hủy trong tổ chức và đủ trơn để dễ dàng rút bỏ.

 

2.2. Các phương pháp dẫn lưu phẫu thuật:

 

+ Dẫn lưu mở:

 

Là loại dẫn lưu tạo nên đường thông giữa một khoang cơ thể ra bề mặt da. Loại dẫn lưu mở thường thấy nhất là dẫn lưu Penrose, được làm từ caosu latex mềm đường kính 0,6 - 2,5 cm. Nó dùng để dẫn lưu mủ, huyết thanh, máu hoặc các chất dịch trong các khoang cơ thể. Thường phải đặt một gạc thấm lên trên dẫn lưu để thấm hết chỗ dịch được dẫn lưu ra.

 

Tùy theo hiệu quả mà dẫn lưu Penrose có thể được rút bỏ ngay hoặc dần dần (1 - 2 cm/ngày). Cần chú ý là nó có nguy cơ gây nhiễm trùng thứ phát do đó không nên để lâu nếu không cần thiết.

 

+ Dẫn lưu kín có hút (closed-suction drain):

 

Các dẫn lưu kín có hút thường dùng để dẫn lưu dịch thanh huyết hoặc máu ở các vùng mổ bị bóc tách nhiều, xung quanh các miệng nối thông trong phúc mạc, dịch trong khoang màng phổi... Chúng thường là các catheter đủ cứng, có nhiều lỗ ở đầu, làm từ chất polyvinyl chloride có tráng silicon.

 

Cần phải theo dõi số lượng và tính chất của dịch dẫn lưu để quyết định rút bỏ dẫn lưu khi đã đạt được mục đích (thường trong 24 - 72 giờ). Mặc dù có tỉ lệ nhiễm trùng thứ phát thấp nhưng nó có thể có các biến chứng như: gây xước và ăn mòn vào các cơ quan và mạch máu xung quanh, khi rút bỏ dẫn lưu có thể bị đứt hoặc rách nên phải mổ để lấy bỏ...

 

+ Dẫn lưu Penrose có hút kín:

 

Là phương pháp kết hợp dẫn lưu hút kín và dẫn lưu Penrose mở, sử dụng hiện tượng mao dẫn của dẫn lưu Penrose nhưng duy trì hút kín để tránh hiện tượng ô nhiễm vi khuẩn từ ngoài vào vết thương. Dẫn lưu kiểu này có hai ống, một ống có đầu ra hoạt động theo nguyên tắc mao dẫn, còn một ống có đục lỗ ở đầu trong và được hút thông qua hệ thống hút kín.

 

+ Dẫn lưu hai đầu (sump drains):

 

Các dẫn lưu hai đầu thường là các ống dẫn lưu to, có 2 hoặc nhiều nòng để có thể vừa bơm rửa vừa hút ra. Thường phải tiến hành phẫu thuật để đặt các dẫn lưu này. Ưu điểm của nó là kết hợp bơm rửa và hút nên có thể làm sạch được các khoang cơ thể có chất cần dẫn lưu phức tạp với số lượng lớn (có các chất hoại tử, dò ruột lượng dịch lớn...), tuy nhiên nó cũng có nguy cơ nhiễm trùng thứ phát cao.

 

+ Dẫn lưu catheter:

 

Dẫn lưu catheter thường được dùng để điều trị các ổ apxe hoặc các khoang đọng dịch khác trong cơ thể. Thường tiến hành đặt các catheter này vào ổ áp xe bằng phẫu thuật hoặc qua da dưới hướng dẫn của siêu âm hay CT. Sau khi đặt catheter thì để dẫn lưu hoạt động theo cơ chế trọng lực hoặc hút chủ động bằng máy hút.

Các bài viết khác
y duoc tinh hoa